I. Đối tượng tham gia và mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động (TNLĐ), bệnh nghề nghiệp (BNN)
1. Đối tượng tham gia
a) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và viên chức;
b) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;
c) Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí;
d) Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu;
đ) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 03 tháng trở lên và người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng. Không bao gồm người lao động là người giúp việc gia đình;
e) Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý Điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương.
2. Mức đóng
Người sử dụng lao động đóng 0,5% trên mức lương cơ sở đối với người lao động là hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí và đóng 0,5% trên quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của người lao động đối với những người lao động khác.
II. Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị TNLĐ, BNN
1. Kịp thời sơ cứu, cấp cứu cho người lao động bị TNLĐ và phải tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu và điều trị cho người lao động bị TNLĐ, BNN;
2. Thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định cho người bị TNLĐ, BNN như sau:
a) Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và nh ững chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế;
b) Thanh toán toàn bộ chi phí y tế đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế;
3. Trả đủ tiền lương cho người lao động bị TNLĐ, BNN phải nghỉ việc trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động;
4. Bồi thường, trợ cấp cho người lao động bị TNLĐ, BNN;
5. Giới thiệu để người lao động được giám định y khoa xác định mức độ suy giảm khả năng lao động, được điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng lao động theo quy định pháp luật;
6. Lập hồ sơ hưởng chế độ về TNLĐ, BNN từ Quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN.
7. Sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe người lao động sau khi điều trị, phục hồi chức năng nếu còn tiếp tục làm việ
III. Bồi thường, trợ cấp TNLĐ, BNN
1. Bồi thường TNLĐ, BNN
Người sử dụng lao động có trách nhiệm bồi thường cho người lao động khi bị TNLĐ, BNN làm suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên khi thuộc trường hợp sau:
- Bị TNLĐ không do lỗi của người lao động;
- Bị TNLĐ khi thực hiện nhiệm vụ hoặc tuân theo sự điều hành của người sử dụng lao động ở ngoài phạm vi cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, hợp tác xã, nếu do lỗi của người khác gây ra hoặc không xác định được người gây ra tai nạn;
Mức bồi thường:
- Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu bị suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;
- Ít nhất 30 tháng tiền lương cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do TNLĐ, BNN;
2. Trợ cấp TNLĐ
Người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp cho người lao động bị TNLĐ làm suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên trong các trường hợp sau:
- Bị TNLĐ do lỗi của chính người lao động gây ra;
- Bị tai nạn khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở theo tuyến đường và thời gian hợp lý, nếu do lỗi của người khác gây ra hoặc không xác định được người gây ra tai nạn;
Mức trợ cấp:
- Ít nhất bằng 40% mức Bồi thường TNLĐ với mức suy giảm khả năng lao động tương ứng;
- Tiền lương để làm cơ sở thực hiện các chế độ bồi thường, trợ cấp, tiền lương trả cho người lao động nghỉ việc do bị TNLĐ, BNN là tiền lương bình quân của 6 tháng liền kề trước khi TNLĐ xảy ra hoặc trước khi bị BNN. Nếu thời gian làm việc, học nghề, tập nghề, thử việc, tập sự không đủ 6 tháng thì là tiền lương bình quân của các tháng trước liền kề thời điểm xảy ra TNLĐ, thời điểm xác định bị BNN.
3.Các trường hợp đặc biệt khác
– Trường hợp người sử dụng lao động đã mua bảo hiểm tai nạn cho người bị TNLĐ tại các đơn vị hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo hiểm, thì người bị TNLĐ được hưởng các khoản chi trả bồi thường, trợ cấp theo hợp đồng đã ký với đơn vị kinh doanh dịch vụ bảo hiểm.
– Nếu số tiền mà đơn vị kinh doanh dịch vụ bảo hiểm trả cho người bị TNLĐ thấp hơn mức Bồi thường, trợ cấp nêu trên, thì người sử dụng lao động phải trả phần còn thiếu để tổng số tiền người bị TNLĐ hoặc thân nhân của người bị TNLĐ nhận được ít nhất bằng mức bồi thường, trợ cấp TNLĐ, BNN.
– Nếu người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm TNLĐ, BNN cho người lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, thì ngoài việc phải bồi thường, trợ cấp nêu trên, người sử dụng lao động phải trả khoản tiền tương ứng với chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN do cơ quan BHXH chi trả; việc chi trả có thể thực hiện một lần hoặc hằng tháng theo thỏa thuận của các bên, trường hợp không thống nhất thì thực hiện theo yêu cầu của người lao động.
– Trường hợp người lao động giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động thì người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm TNLĐ, BNN theo từng hợp đồng lao động đã giao kết nếu người lao động thuộc đối tượng phải tham gia BHXH bắt buộc. Khi xảy ra TNLĐ, BNN người lao động được hưởng trợ cấp TNLĐ, BNN hằng tháng hoặc một lần được tính trên cơ sở tổng các mức tiền lương làm căn cứ đóng vào quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN của tất cả các hợp đồng lao động tại thời điểm xảy ra TNLĐ, BNN, nhưng không quá mức tối đa theo quy định của pháp luật BHXH.
4. Trường hợp người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động khi bị TNLĐ
Người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động nếu bị tai nạn thuộc một trong các nguyên nhân sau:
- Do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai nạn mà không liên quan đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động;
- Do người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân;
- Do sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác trái với quy định của pháp luật.
IV. Trách nhiệm chi trả cơ quan BHXH
1. Điều kiện hưởng chế độ TNLĐ
Người lao động tham gia bảo hiểm TNLĐ, BNN được hưởng chế độ TNLĐ khi có đủ các điều kiện sau đây:
-
- Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc mà Bộ luật lao động và nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh cho phép, bao gồm nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh;
- Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động;
- Trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý;
1.2 Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn quy định tại khoản 1 Điều này.
2. Điều kiện hưởng chế độ BNN
- Bị BNN thuộc Danh mục BNN do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành;
- Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên.
V. Mức trợ cấp
Trợ cấp một lần
- Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% thì được hưởng trợ cấp một lần.
- Mức trợ cấp một lần được quy định như sau:
a) Suy giảm 5% khả năng lao động thì được hưởng 05 lần mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 lần mức lương cơ sở;
b) Ngoài mức trợ cấp quy định tại điểm a khoản này, còn được hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng vào Quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN, từ một năm trở xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng vào quỹ được tính thêm 0,3 tháng tiền lương đóng vào quỹ của tháng liền kề trước tháng bị TNLĐ hoặc được xác định mắc BNN; trường hợp bị TNLĐ ngay trong tháng đầu tham gia đóng vào quỹ hoặc có thời gian tham gia gián đoạn sau đó trở lại làm việc thì tiền lương làm căn cứ tính khoản trợ cấp này là tiền lương của chính tháng đó.
VI. Trợ cấp hàng tháng
- Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng trợ cấp hằng tháng.
- Mức trợ cấp hằng tháng được quy định như sau:
a) Suy giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương cơ sở;
b) Ngoài mức trợ cấp quy định tại điểm a khoản này, hằng tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng vào Quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN, từ một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng vào quỹ được tính thêm 0,3% mức tiền lương đóng vào quỹ của tháng liền kề trước tháng bị TNLĐ hoặc được xác định mắc BNN; trường hợp bị TNLĐ ngay trong tháng đầu tham gia đóng vào quỹ hoặc có thời gian tham gia gián đoạn sau đó trở lại làm việc thì tiền lương làm căn cứ tính khoản trợ cấp này là tiền lương của chính tháng đó.
VII. Trợ cấp khi người lao động chết do TNLĐ, BNN
Thân nhân người lao động được hưởng trợ cấp một lần bằng 36 lần mức lương cơ sở tại tháng người lao động bị chết và được hưởng chế độ tử tuất theo quy định của Luật BHXH khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Người lao động đang làm việc bị chết do TNLĐ, BNN;
- Người lao động bị chết trong thời gian điều trị lần đầu do TNLĐ, BNN;
- Người lao động bị chết trong thời gianđiều trị thương tật, bệnh tật mà chưa được giám định mức suy giảm khả năng lao động.
VIII. Chi phí giám định BNN, TNLĐ
- Người lao động bị TNLĐ, BNN mà suy giảm khả năng lao động dưới 5% thì người sử dụng lao động trả phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động đối với những trường hợp người sử dụng lao động giới thiệu người lao động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa;
- Người lao động bị TNLĐ, BNN suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên và đủ điều kiện hưởng chế độ trợ cấp TNLĐ, BNN thì chi phí giám định do quỹ BHXH chi trả.
IX. Trách nhiệm hình sự, xử phạt vi phạm hành chính với hành vi vi phạm an toàn lao động, vệ sinh lao động
Người vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của bộ luật hình sự kể cả trong trường hợp chưa gây ra hậu quả nhưng thực tế có khả năng gây ra hậu quả nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời hoặc bị xử phạt hành chính trong trường hợp chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
